Chúng tôi muốn gọi đó là những ghi chú có tính biện chứng (lý do sẽ được giải thích trong Phần 4). Tưởng tượng rằng, có một số diễn viên tài năng đang chờ bạn chỉ đạo. Liệt kê những phần chính theo thứ tự và mối quan hệ, lập đề cương cho những phần này như bạn đã lập đề cương cho toàn bộ tác phẩm.
Cuối cùng là những bài luận chính, hoàn toàn mang tính triết học lý thuyết hay quy phạm về vật lý, siêu vật lý, đạo đức, chính trị và thi ca. Mặc dù vậy, mọi cuốn sách đáng đọc đều có tính thống nhất giữa nội dung với hệ thống các phần. Phần 2 và 3 - miêu tả các thành phần cấu tạo nên Hạ viện và Thượng viện, đồng thời nêu rõ phẩm chất chuyên môn của từng thành viên trong viện.
Kết quả tác giả đưa ra có chinh phục bạn hay không phụ thuộc hoàn toàn vào anh ta. Yêu cầu thứ hai khó hơn rất nhiều, đó là bạn phải biết được cuốn sách nào nhìn chung nên đọc. Trái lại, bạn cần phải hiểu hết mọi câu.
Dù trong sách có thể có thêm những phần thảo luận nhưng tất cả đều phục vụ các quy tắc. Kỹ năng ngữ pháp và logic giúp việc viết được rõ ràng và dễ hiểu cũng đồng thời là phương tiện để đạt mục đích trên. Để kiến thức mang tính thực tế, chúng ta phải biết chuyển chúng thành nguyên tắc hoạt động, từ việc biết đó là trường hợp nào sang việc biết phải làm gì để đạt được mục tiêu trong trường hợp đó.
Có thể chúng ta không bao giờ biết được sự thật, nhưng dù sao những chuyên luận của Aristotle vẫn là một kiểu văn phong mới trong triết học. Một phiên tòa thường quan tâm đến những sự kiện xảy ra gần với hiện tại và thường có sự hiện diện của nhân chứng sống. Hãy giả định hai trường hợp khá phổ biến trong tình huống này.
Nếu tác giả dùng một từ theo nghĩa này mà độc giả lại hiểu nó theo nghĩa khác, tức là hai bên hoàn toàn không có sự thống nhất về ý niệm mặc dù đã có sự chuyển giao ngôn từ. Ngôn ngữ thể hiện các thuật ngữ, định lý và phương trình toán học thường không hàm chứa ý nghĩa về cảm xúc. Phần 9 - những điểm hạn chế trong quyền lực của Quốc hội.
Cơ bản có hai cách đưa ra lập luận: bằng các giả định mà cả tác giả và độc giả đều chấp nhận, hoặc bằng những nhận định hiển nhiên mà cả tác giả và độc giả đều không thể phủ nhận. Lý do có thể vì độc giả đã có những tiền kiến nhất định về cách tiếp cận vấn đề của tác giả cũng như những kết luận cuối cùng ông ta đưa ra. Chúng ta không thể lên án các triết gia vĩ đại vì họ đã tìm cách giấu kín các giả thuyết của mình hay đưa ra những định nghĩa và nhận định mập mở.
Việc đọc sách, giống như tự khám phá, chính là học mà không có thầy giáo. Dù gì đi nữa, ngay lúc đó bạn cũng có thể bỏ sách xuống. Mặc dù vậy, điều này không có nghĩa nhận định thế nào cũng đúng.
Các nhà phê bình văn học đã tán thành hay phản đối cuốn sách này mà không hề nhận ra rằng những nguyên tắc chính được Aristotle áp dụng khi phân tích thơ phụ thuộc một phần vào những điều đã nêu trong một số tác phẩm khác, trong các luận thuyết về tâm lý, logic và siêu hình học của ông. Vì phương pháp dọc đồng chủ đề có vẻ xa lạ với nhiều người nên chúng tôi bàn về nó nhiều hơn các cấp độ đọc khác, đưa ra đầy đủ quy tắc và giải thích từng quy tắc cũng như cách áp dụng chúng. Do đó, quy tắc 3 không chỉ liên quan đến việc liệt kê các phần trong sách, mà còn bao hàm việc lập dàn ý từng phần, coi đó là những tập hợp con mà mỗi phần lại có tính chỉnh thể và phức tạp riêng.
Như vậy, cuốn sách lý thuyết đó cũng có những kết luận thực tiễn. Trên thực tế, quá trình đọc trong và đọc ngoài có xu hướng kết nối với nhau trong quá trình hiểu và phê bình một cuốn sách. Số lượng các thuật ngữ tinh tế tương quan với độ nổi trội của tác phẩm.